Chơn Cơ, Chân Cơ

《眞機》 zhēn jī

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: lý huyền diệu, Bí Yếu. Như trong bài thơ Tống Đạm Công Quy Tung Sơn Long Đàm Tự Táng Bổn Sư () của Dương Cự Nguyên (, 755-?) nhà Đường có câu: “Dã yên thu hỏa thương mang viễn, Thiền cảnh chơn cơ khử trú nhàn (, khói hoang thu lửa xanh xa tít, Thiền cảnh Huyền Cơ mặc sống nhàn).” Hay trong bài thơ Hòa Giả Vân Lão Xuân Vãn () của Trần Sư Đạo (, 1053-1101) nhà Tống cũng có câu: “Nhất ngọa hải thành xuân hựu vãn, bất phương nhàn xứ đắc chơn cơ (, nằm xuống biển thành xuân lại xế, ngại gì nhàn chốn được Huyền Cơ).” Hay trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 20, phần Khai Thị Kệ (), lại có câu: “Quế hoa hương xứ lộ chơn cơ, chánh thị tâm không cập đệ thời (, quế hoa hương ngát lộ Cơ Duyên, đúng lúc tâm không thị đỗ về).” Hoặc trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) cũng có đoạn rằng: “Giáo ngoại biệt truyền, Bất Lập Văn Tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh Thành Phật, thị dĩ Cửu Niên Diện Bích, độc khế chơn cơ, chích lý Tây quy (西, ngoài giáo truyền riêng, không lập văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tán Thành Phật, vì vậy chín năm nhìn vách, riêng khế Huyền Cơ, một dép về Tây).”