Chiên Đàn Thụ
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
1. Cây Chiên Đàn. Chiên Đàn, Phạm, Pàli: Candana. Còn gọi là Chân đàn thụ, Chiên Đàn na thụ, Chân đàn. Bản thảo Cương Mục gọi là Bạch Đàn, Đàn hương. Thuộc họ đàn hương. Là loại cây xanh luôn, thân cao vài trượng, gỗ thơm phức, có thể dùng để chạm trổ - rễ nghiền thành bột, có thể dùng làm hương thắp, hoặc chế dầu thơm, lá dài độ năm phân tây, đầu nhọn, mọc đối nhau, hoa có từng ngăn một. Hột trong quả lớn bằng hạt đậu tằm, khi chín thì đen, có nhiều dầu và rất cứng. Huyền Ứng Âm Nghĩa quyển 23 bảo có mấy loại đỏ, trắng và tía. Tuệ lâm Âm Nghĩa quyển 21, dẫn Tuệ uyển Âm Nghĩa quyển thượng nói, đàn trắng có thể chữa bệnh nhiệt, đàn đỏ có thể trừ bệnh phù, đều có khả năng trị bệnh, bởi thế còn dịch là cho niềm vui. Còn có Chiên Đàn đầu trâu (Phạm: Gozìwa-candana) đàn lòng rắn (Phạm: Uragasàra-candana).
2. Loại Chiên Đàn ở núi Ngưu Đầu, màu vàng tro, mùi thơm ngào ngạt, người xưa dùng tạc tượng Phật, như vua Ưu điền dùng gỗ thơm này để khắc tượng Phật, khắp đời nghe tiếng - loại lòng rắn còn được gọi là Chiên Đàn ô lạc ca, vì nó đặc biệt trừ được nọc rắn độc, cho nên gọi đàn lòng rắn. [X. Trung a hàm Q. 34. Dụ kinh - luận Đại trí độ Q. 10. - Đại Đường Tây Vực Kí Q. 2., Q. 10.]. (xt. Ngưu Đầu Chiên Đàn).
2. Loại Chiên Đàn ở núi Ngưu Đầu, màu vàng tro, mùi thơm ngào ngạt, người xưa dùng tạc tượng Phật, như vua Ưu điền dùng gỗ thơm này để khắc tượng Phật, khắp đời nghe tiếng - loại lòng rắn còn được gọi là Chiên Đàn ô lạc ca, vì nó đặc biệt trừ được nọc rắn độc, cho nên gọi đàn lòng rắn. [X. Trung a hàm Q. 34. Dụ kinh - luận Đại trí độ Q. 10. - Đại Đường Tây Vực Kí Q. 2., Q. 10.]. (xt. Ngưu Đầu Chiên Đàn).