Chân Không Quán
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Một trong ba phép quán Pháp Giới do tông Hoa nghiêm lập ra. Tức quán Lí Pháp Giới trong bốn Pháp Giới. Chân, chỉ cho ý nghĩ không hư dối. Không, chỉ Sắc Tướng không có hình chất chướng ngại. Pháp Giới, chỉ cảnh sở quán. Quán, chỉ cho tâm năng quán. Tức trụ nơi quán Bình Đẳng, quán sắc chẳng phải sắc thực, thể của nó là Chân Không - quán không chẳng phải đoạn không, thể của nó là sắc giả - cũng tức là quán sắc tức không, không tức sắc, nhờ thế mà thoát được tất cả sự trói buộc của trần lụy, đạt đến cảnh không, Sắc Không trở ngại nhau. Đó là Chân Không Quán. Ngài Đỗ Thuận chia làm bốn câu mười môn:
1. Hội sắc qui Không Quán, nghĩa là hội tụ tất cả các Sắc Pháp về tính Chân Không. Ở đây có bốn môn: a. Sắc phi đoạn Không Môn, nghĩa là sắc tuy là giả, nhưng quyết không phải là cái không đoạn diệt, mà là tất cả thể đều Chân Không. b. Sắc phi Chân Không môn, nghĩa là, sắc thực chẳng phải Chân Không. c. Sắc Không phi Không Môn, nghĩa là sắc thực và đoạn không đều chẳng phải Chân Không. d. Sắc Tức Thị Không môn, nghĩa là cả sắc và không đều không có thể tính, cho nên là Chân Không.
2. Minh không tức sắc quán, có nghĩa Chân Không tức là bản tính của hết thảy Sắc Pháp. Như vậy, hễ là chân tức là tục giả, ở đây do bản tính của sự vật mà nói Chân Không. Cũng chia làm bốn môn : a. Không phi huyễn sắc môn, nghĩa là cái không đoạn diệt chẳng phải tức là sắc giả. b. Không phi thực sắc môn, nghĩa là Chân Không chẳng phải tức là sắc thực. c. Không phi không sắc môn, nghĩa là Chân Không quyết không phải là cái không đoạn diệt và sắc thực ở trước mắt mà là chỉ cái bản tính của Chân Không. d. Không Tức Thị Sắc môn, nghĩa là nói về lí không, Vô Ngã là do lí không sắc tương tức. Không, tức Chân Không, sắc, thì kiêm cả sắc giả.
3. Không sắc vô ngại quán, nghĩa là tất cả thể của Sắc Tướng là Chân Không, mà tất cả thể của Chân Không cũng không khác Sắc Tướng - vì sắc là sắc giả nên cũng chẳng trở ngại không cũng chẳng trở ngại sắc, cho nên quán hai Pháp Không, sắc chẳng trở, chẳng ngại.
4. Mẫn tuyệt vô kí quán, Mẫn tuyệt, nghĩa là dứt tuyệt Sắc Không, lìa tất cả tướng. Vô kí, có nghĩa là chẳng còn lời nói chữ nghĩa nào có thể gửi gấm được. Tức là cái Chân Không sở quán ấy siêu tuyệt mọi đối đãi, dứt hết mọi lời nói, suy tư, không có cách nào diễn tả được. Cho nên phải đạt đến cảnh địa Bất Khả Tư Nghị, tâm cảnh đều diệt mới có thể thấy được toàn thể Chân Không. [X. Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn - Chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn tự]. (xt. Tam Trùng Quán Môn).
1. Hội sắc qui Không Quán, nghĩa là hội tụ tất cả các Sắc Pháp về tính Chân Không. Ở đây có bốn môn: a. Sắc phi đoạn Không Môn, nghĩa là sắc tuy là giả, nhưng quyết không phải là cái không đoạn diệt, mà là tất cả thể đều Chân Không. b. Sắc phi Chân Không môn, nghĩa là, sắc thực chẳng phải Chân Không. c. Sắc Không phi Không Môn, nghĩa là sắc thực và đoạn không đều chẳng phải Chân Không. d. Sắc Tức Thị Không môn, nghĩa là cả sắc và không đều không có thể tính, cho nên là Chân Không.
2. Minh không tức sắc quán, có nghĩa Chân Không tức là bản tính của hết thảy Sắc Pháp. Như vậy, hễ là chân tức là tục giả, ở đây do bản tính của sự vật mà nói Chân Không. Cũng chia làm bốn môn : a. Không phi huyễn sắc môn, nghĩa là cái không đoạn diệt chẳng phải tức là sắc giả. b. Không phi thực sắc môn, nghĩa là Chân Không chẳng phải tức là sắc thực. c. Không phi không sắc môn, nghĩa là Chân Không quyết không phải là cái không đoạn diệt và sắc thực ở trước mắt mà là chỉ cái bản tính của Chân Không. d. Không Tức Thị Sắc môn, nghĩa là nói về lí không, Vô Ngã là do lí không sắc tương tức. Không, tức Chân Không, sắc, thì kiêm cả sắc giả.
3. Không sắc vô ngại quán, nghĩa là tất cả thể của Sắc Tướng là Chân Không, mà tất cả thể của Chân Không cũng không khác Sắc Tướng - vì sắc là sắc giả nên cũng chẳng trở ngại không cũng chẳng trở ngại sắc, cho nên quán hai Pháp Không, sắc chẳng trở, chẳng ngại.
4. Mẫn tuyệt vô kí quán, Mẫn tuyệt, nghĩa là dứt tuyệt Sắc Không, lìa tất cả tướng. Vô kí, có nghĩa là chẳng còn lời nói chữ nghĩa nào có thể gửi gấm được. Tức là cái Chân Không sở quán ấy siêu tuyệt mọi đối đãi, dứt hết mọi lời nói, suy tư, không có cách nào diễn tả được. Cho nên phải đạt đến cảnh địa Bất Khả Tư Nghị, tâm cảnh đều diệt mới có thể thấy được toàn thể Chân Không. [X. Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn - Chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn tự]. (xt. Tam Trùng Quán Môn).