Câu Hi La

《拘絺羅》 jū chī luó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Kauwỉhila. Một trong mười Đệ Tử lớn của đức Phật. Cũng gọi Ma Ha Câu Hi La (Phạm: Mahàkauwỉhila, Pàli: Mahàkoỉỉhita), Ma Ha câu sắt chỉ la, Câu sắt để la. Dịch ý là Đại tất (đầu gối lớn), Đại đỗ trì (có bụng lớn), Đại thắng. Sau khi theo Phật Xuất Gia, ngài chứng được quả A La Hán, được lí năm uẩn đều không, vì thế gọi là Ngộ Không. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 12 chép, thì khi ngài Câu Hi La ở trên núi Kì xà quật, ngài Xá Lợi Phất đến hỏi về nghĩa mười hai Nhân Duyên, Câu Hi La lần lượt trả lời được hết. Xá Lợi Phất khen trí tuệ sáng suốt của ngài như viên ngọc báu vô giá. Lại kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 phẩm Đệ Tử chép, ngài Câu Hi La có đủ bốn Biện Tài. Kinh Tạp a hàm quyển 9, quyển 10, quyển 14, Trung a hàm quyển 7 kinh Đại Câu Hi La, quyển 58 kinh Đại Câu Hi La v.v... cũng có chép cuộc vấn đáp về pháp nghĩa giữa Câu Hi LaXá Lợi Phất, còn các sự tích khác của ngài thì không được rõ. Ngoài ra, kinh Soạn tập bách duyên quyển 10, luận Đại trí độ quyển 1, Hữu Bộ tì nại da Xuất Gia sự quyển 1, quyển 2, đều nói Câu Hi La tức là Phạm Chí Trường trảo, cậu của ngài Xá Lợi Phất. [X. kinh Trung a hàm Q. 20. - kinh Chi li di lê - kinh Tăng nhất a hàm Q. 10. - kinh Phật Bản Hạnh tập Q. 47. - luận Đại Thừa thành nghiệp - luận Phân Biệt Công Đức Q. 4. - Huyền Ứng Âm Nghĩa Q. 25.]. (xt. Trường Trảo Phạm Chí).