Cảnh Sách

《警策》 jǐng cè

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

I. Cảnh Sách. Ý là cảnh giác nhắc nhở nhau Tinh Tiến tu hành. Hoàng bá thanh qui Phúng Tụng chương (Đại 82, 771 hạ), nói: Duy Na đọc Cảnh Sách rằng: Hôm nay qua đi rồi, mệnh sống cũng giảm theo, như cá trong nước cạn, nào vui thú gì đâu? Đại chúng! Phải siêng năng Tinh Tiến, như chữa lửa cháy đầu, nên nghĩ đến vô thường, chớ để lòng buông thả.
II. Cảnh Sách. Nói tắt của Cảnh Sách bổng (gậy cảnh tỉnh). Trong Thiền Lâm thường dùng gậy này để đánh chư tăng trong lúc ngồi thiền mà lơ đễnh, ngủ gục hoặc tư thế không ngay ngắn. Là một thanh gỗ dẹt, lớn nhỏ, hình dáng, nặng nhẹ không giống nhau, thông thường dài bốn thước hai tấc (Tàu), đầu trên hơi rộng, độ hai tấc, phần cán thì thon thon tròn. Gậy dùng trong muà đông phần nhiều làm bằng gỗ cứng, mùa hạ thì gỗ mềm, đó là tùy theo áo mặc vào mùa đông, mùa hạ có dày, mỏng khác nhau. Phép Cảnh Sách là, trước hết ông thầy đánh nhẹ vào vai bên phải của người ngủ gục để cảnh cáo trước, sau đó lại đánh mạnh để cảnh tỉnh. Người bị đánh chắp tay tạ ơn, người đánh thì cầm ngang cây gậy hỏi han. Lại khi tụng kinh vào sáng sớm cũng dùng gậy Cảnh Sách. Cũng có khi ông thầy dùng roi tre để thay gậy gỗ. Ngoài ra, trong luật Thập tụng có danh từ Thiền Trượng , cũng là dụng cụ đánh thức người ngồi thiền mà ngủ gục. Thiền Trượng làm bằng tre trúc, một đầu có buộc dây lụa. [X. Hành Trì quĩ phạm Q. 1. Nhật phần Hành Trì].