Cầm Sắt
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: tên hai loại nhạc khí là cây đàn cầm, đàn dài 3 thước, 6 tấc, căng 7 dây; và cây đàn sắt, loại đàn có 25 dây. Khi hai loại này cùng đàn tấu lên, âm sắc của chúng mười phần hòa điệu với nhau. Như trong Thượng Thư (尚書), phần Ích Tắc (益稷) có câu: “Ca kích minh cầu, bác phụ Cầm Sắt chi vịnh, tổ khảo lai cách (嘎擊鳴球、搏拊琴瑟以詠、祖考來格, đánh cầu kêu lắc cắc, gãy đàn Cầm Sắt vịnh theo, ông nội đến thán phục).” Từ đó, Cầm Sắt được dùng để tỷ dụ cho sự hòa hợp tốt đẹp của vợ chồng với nhau, hay tình cảm dung hòa giữa bằng hữu, anh em; như trong Thi Kinh (詩經), phần Quan Thư (關雎) có câu: “Yểu điệu thục nữ, Cầm Sắt hữu chi (窈窕淑女,琴瑟友之, yểu điệu thục nữ, Cầm Sắt bạn đôi).” Hay như trong Nghĩ Liên Châu (擬連珠) của Dữu Tín (庾信, 513-581) thời Bắc Chu lại có câu: “Trung tín vi Cầm Sắt, nhân nghĩa vi bào trù (忠信為琴瑟,仁義為庖廚, trung tín là Cầm Sắt, nhân nghĩa là bồi bếp).” Trong dân gian vẫn thường dùng một số câu đối từ để chúc mừng tân hôn, vợ chồng song toàn, v.v., như “Cầm Sắt hữu chi (琴瑟友之, Cầm Sắt bạn đôi)”, “Cầm Sắt canh hòa (琴瑟賡和, Cầm Sắt hòa theo)”, “bách niên Cầm Sắt (百年琴瑟, trăm năm Cầm Sắt)”, “như cổ Cầm Sắt (如鼓琴瑟, như trống hòa âm)”, “Cầm Sắt hòa minh (琴瑟和鳴, Cầm Sắt hòa vang)”, “Cầm Sắt trùng điệu (琴瑟重調, Cầm Sắt trùng điệu)”, “Cầm Sắt bách niên (琴瑟百年, Cầm Sắt trăm năm)”, v.v.