Cách Tử Môn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cái cửa nhỏ trong nhà Phương Trượng của vị trụ trì chùa viện nhìn ra sân ngoài, gọi là Cách Tử Môn, dùng để tách rời nhà Phương Trượng với sân ngoài. Minh giác lục quyển 4 (Đại 47, 695 hạ), nói: Huyền sa và Địa Tạng đang đàm đạo trong Phương Trượng, đêm khuya, Sa nói: Thị Giả đã cài cửa cách tử, ngài làm sao ra được? Địa Tạng nói: Gọi cái gì là cửa?. CAI NHIẾP Tiếng thường dùng của tông Hoa nghiêm. Cai, là hoàn bị, trọn đủ; nhiếp, hút lấy, thu lấy. Có nghĩa là thu lấy, gói gém tất cả cái Sai Biệt vào cái tuyệt đối. Cai nhiếp là nói đối lại với Phân tướng . Tông Hoa nghiêm bảo các pháp ba thừa, một thừa Sai Biệt vốn chẳng ra ngoài Biệt Giáo Nhất Thừa, tất cả đều là những làn sóng trong biển Hoa nghiêm, cho nên, đứng về phương diện thể mà nói thì tiêu trừ mọi tướng Sai Biệt mà hòa nhập tất cả trong tuyệt đối. [X. Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Q.thượng]. CAI NHIẾP MÔN Tiếng dùng của tông Hoa nghiêm để giải thích Biệt Giáo Nhất Thừa. Đối lại với Phân tướng môn. Đại sư Hiền thủ của tông Hoa nghiêm dùng hai môn Phân tướng và Cai nhiếp để giải thích rõ về Biệt Giáo Nhất Thừa, trong đó, Phân tướng môn giải thích Danh Nghĩa của Biệt Giáo Nhất Thừa, Cai nhiếp môn giải thích Pháp Thể của Biệt Giáo Nhất Thừa. Do nơi giáo pháp bất đồng mà Phật giáo được chia thành ba thừa, một thừa. Nếu ngoài ba thừa mà lập riêng một thừa, thì gọi là Phân tướng môn. Còn nếu tóm thu ba thừa vào một thừa, thì gọi là Cai nhiếp môn. Phân tướng môn là biểu thị lập trường tương đối về ngữ nghĩa của Biệt Giáo Nhất Thừa, còn Cai nhiếp môn thì biểu thị lập trường tuyệt đối về Bản Chất của Biệt Giáo Nhất Thừa. [X. Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Q.thượng].