Ca Duy Vệ

《迦惟衛》 jiā wéi wèi

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: từ gọi tắt của Ca Tỳ La Vệ (Sanskrit: Kapilavastu, Pāli: Kapilavatthu ), âm dịch là Ca Duy La Duyệt (), Ca Duy La Việt (), Ca Duy La Vệ (), Ca Tỳ La Bà Tô Đô (), Ca Tỷ La Bà Tốt Đổ (), Kiếp Tỷ La Phạt Tốt Đổ (), Bà Đâu Thích Xí Sưu (), Ca Duy La (), Ca Di La (), Ca Tỳ La (); ý dịch là Thương Thành (, thành màu xanh), Hoàng Xích Thành (, thành màu vàng đỏ), Diệu Đức Thành (, thành có uy đức diệu kỳ), Hoàng Đầu Tiên Nhân Trú Xứ (, chỗ ở của vị Tiên Nhân đầu vàng), Hoàng Phát Tiên Nhân Trú Xứ (, chỗ ở của vị Tiên Nhân tóc vàng), v.v. Đây là tên của thành đô do dòng họ Thích Ca cai quản, hay tên một quốc gia. Tương truyền Ca Tỳ La Tiên Nhân (), vị tổ của Phái Số Luận (Sanskrit: Sāṅkhya, Pāli: Saṅkhyā ), đã từng sống tại thành đô này, nên có tên gọi như vậy. Hiện tại nó ở tại vùng Đề La Lạp Khấu Đặc (Sanskrit: Tilorakoṭ, ) thuộc địa phương Ta-rai của vương quốc Nepal, là nơi đức Phật đản sanh. Quốc Vương của thành này là vua Tịnh Phạn (Sanskrit: Śuddhodana, Pāli: Suddhodana ), hoàng thân của đức Thích Ca; vườn Lâm Tỳ Ni (s, Pāli: Lumbinī ), nơi đức Phật đản sanh, là biệt trang của nhà vua, nằm về phía Tây thành. Sau khi dòng họ Thích Ca bị vua Tỳ Lưu Ly (Sanskrit: Virūḍhaka, ) của nước Kiều Tát La (Sanskrit: Kauśala, Kośalā, Pāli: Kosala ) thảm sát, thành Ca Tỳ La Vệ đi đến tình trạng suy vong, vùng đất này dần dần bị hoang phế. Khi Cao Tăng Pháp Hiển (, 340?-?) nhà Tấn của Trung Quốc sang chiêm bái, thành quách nơi đây đã hoàn toàn lụi tàn và dân chúng chỉ còn lại mấy mươi người mà thôi. Đến khi Huyền Trang (, 602-664) thời nhà Đường sang Tây du, ông vẫn còn thấy các ngôi Già Lam, tháp và trụ đá lớn do A Dục Vương (Sanskrit: Aśoka, Pāli: Asoka ) kiến lập nên. Trụ đá ấy được khai quật vào năm 1897. Trong Phật Quốc Ký () của Cao Tăng Pháp Hiển (, 340?-?) nhà Tấn có giải thích về Thành Ca Tỳ La Vệ rằng: “Tùng thử đông hành giảm nhất do diên, đáo Ca Duy La Vệ Thành, thành trung đô vô vương dân, thậm như khâu hoang, chỉ hữu chúng tăng dân hộ số thập gia nhi dĩ (, từ đây đi về hướng đông, chưa đầy một Do Tuần, đến Thành Ca Duy La Vệ, trong thành đều không có vua và dân, thậm chí như đất hoang, chỉ có chúng tăng, hộ dân vài chục nhà mà thôi).” Trong Thủy Kinh Chú (), phần Hà Thủy () của Lịch Đạo Nguyên (, 466 hay 472-527) nhà Bắc Ngụy (, 386-534) có đoạn rằng: “Hằng thủy hựu đông nam, kinh Ca Duy La Vệ Thành bắc, cố Bạch Tịnh vương cung dã (, Sông Hằng lại chảy về hướng đông nam, đi thẳng về phía bắc Thành Ca Duy La Vệ, là vương cung của vua Tịnh Phạn).” Hay như trong Thất Phật Phụ Mẫu Tánh Tự Kinh (, Taishō No. 4) lại có câu: “Kim ngã tác Thích Ca Văn Ni Phật, phụ tự Duyệt Đầu Đàn Sát Lợi Vương, mẹ tự Ma Ha Ma Da, sở trị quốc danh Ca Duy La Vệ (, ta nay làm Thích Ca Văn Ni Phật, cha tên là Duyệt Đầu Đàn Sát Lợi Vương, mẹ là Ma Ha Ma Da, trị vì nước tên là Ca Duy La Vệ).”