Bồ Liễu

《蒲柳》 pú liǔ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tên một loại Thực Vật, tên khác của Thủy Dương (), thuộc khoa Dương Liễu (), lá rụng, cây cao hay thấp bụi rậm; vỏ cây màu hồng hay vàng sẫm, vỏ nhánh cây sần sùi, màu xanh lá cây pha tím, vào mùa thu thì tàn rụi, lá rụng trơ trọi. Tên khoa học của nó là Salixgracilistyla, tiếng Anh là willow, bigcatkinwillow. Bên cạnh đó, Bồ Liễu còn tỷ dụ cho người có Thân Thể suy nhược, yếu mềm hay địa vị thấp hèn. Như trong Thế Thuyết Tân Ngữ () của Lưu Nghĩa Khánh (, 403-444) thời Nam Triều nhà Tống có câu: “Bồ Liễu chi tư, vọng thu nhi lạc, tùng bách chi chất, kinh sương di mậu (姿, dáng cây Bồ Liễu, thu về rơi rụng, chất loại tùng bách, sương thấm càng tươi).” Trong Tấn Thư (), phần Cố Duyệt Chi Truyện () cũng có câu tương tợ như vậy: “Bồ Liễu thường chất, vọng thu tiên linh (, chất thường Bồ Liễu, thu về rụng đầy).” Hay như trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (, CBETA No. 1252) quyển 2, phần Bảo Thai () cũng có câu: “Tùng bách chi tư kinh đông dũ mậu, Bồ Liễu chi chất vọng thu tiên linh (姿, dáng cây tùng bách qua đông càng tốt, chất loại Bồ Liễu chớm thu đã tàn).” Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc () của Đặng Trần Côn (, ?-?, khoảng thế kỷ 18), Việt Nam, cũng có câu liên quan đến loài cây yếu mềm này như: “Biệt sầu thu hận lưỡng tương ma, Bồ Liễu thanh thanh năng kỷ hà ().” Đoàn Thị Điểm (, 1705-1748) dịch là “oán sầu nhiều nỗi tơi bời, vóc Bồ Liễu dễ ép nài chiều xuân.”