Bát Tiết

《八節》 bā jié

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tám tiết chính trong một năm, gồm: (1) Tiết Xuân (, đầu năm), (2) Tiết Nguyên Tiêu (, tức Thượng Nguyên [], nhằm đêm rằm tháng Giêng âm lịch, còn gọi là Nguyên Tịch [], Nguyên Dạ []), (3) Tiết Thanh Minh (, vào tháng 3 âm lịch, nhằm ngày 5, 6 tháng 4 dương lịch), (4) Tiết Đoan Ngọ (, vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch, còn gọi là Đoan Ngũ [], Đoan Dương [], Trùng Ngũ []), Tiết Quỷ (, tức Trung Nguyên [], vào ngày rằm tháng 7 âm lịch), (5) Tiết Trung Thu (, vào ngày rằm tháng 8), (6) Tiết Trùng Dương (, vào ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, còn gọi là Trùng Cửu []), (7) Tiết Hạ Nguyên (, vào ngày rằm tháng 10 âm lịch), (8) Tiết Lạp (, tiết cuối năm vào tháng 12 âm lịch). Cũng có thuyết khác cho rằng Bát Tiết là Lập Xuân (), Lập Hạ (), Lập Thu (), Lập Đông (), Xuân Phân (), Hạ Chí (), Thu Phân () và Đông Chí (). Như trong Chu Bễ Toán Kinh () quyển hạ có đoạn: “Phàm vi Bát Tiết Nhị Thập Tứ Khí (, phàm là Tám Tiết, Hai Mươi Bốn Khí).” Hay trong Hàn Sơn Thi () cũng có câu: “Tứ Thời chu biến dị, Bát Tiết cấp như lưu (, Bốn Thời xoay đổi khác, Tám Tiết nước chảy nhanh).” Hoặc như trong Tây Du Ký (), phần Hoa Quang Lai Thiên Điền Quốc Hiển Linh () có câu: “Hữu Tứ Thời bất tạ chi hoa, Bát Tiết trường xuân chi cảnh (, có Bốn Thời hoa chẳng rụng, Tám Tiết cảnh sắc trường xuân).”