Bất Định Nhân

《不定因》 bù dìng yīn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Tiếng dùng trong Nhân Minh. Chỉ cái lỗi trong cách lập luận Nhân Minh phạm phải do thiếu tướng (nguyên lí) thứ hai (Đồng Phẩm Định Hữu Tính: Nhân phải có cùng một tính chất với chủ từ của Tông) hoặc tướng thứ ba (Dị Phẩm Biến Vô Tính: tính chất của Nhân phải hoàn toàn không có trong khách từ của Tông) của Nhân (lí do). Lỗi này gồm sáu loại:
1. Cộng Bất Định Quá: Nhân cùng lúc thông với cả Tông Đồng Phẩm (cùng tính chất với khách từ của Tông) và Tông Dị Phẩm (khác tính chất với khách từ của Tông). Do lỗi này mà Nhân không cách nào xác định được Tông. Cũng tức là đã thiếu điều kiện Dị Phẩm Biến Vô Tính (hoàn toàn không liên quan gì đến khách từ của Tông).
2. Bất Cộng Bất Định Quá: Nhân cùng lúc không thông với cả Tông Đồng Phẩm và Tông Dị Phẩm.
3. Đồng Phẩm Nhất Phần chuyển Dị Phẩm biến chuyển Bất Định: Nhân có liên quan với một phần chủ từ của Tông và liên quan với toàn bộ khách từ của Tông.
4. Dị Phẩm Nhất Phần Chuyển Đồng Phẩm Biến Chuyển Bất Định quá: Nhân có liên quan một phần với khách từ của Tông và liên quan toàn bộ với chủ từ của Tông.
5. Câu Phẩm Nhất Phần Chuyển Bất Định Quá, cũng gọi Câu phần Bất Định quá: Nhân có liên quan một phần với chủ từ của Tông và một phần liên quan với khách từ của Tông.
6. Tương vi Quyết Định Bất Định quá, cũng gọi Tương vi Bất Định quá. Lỗi này khác với năm lỗi trước, không phải vì thiếu Đồng Phẩm Định Hữu Tính, cũng không phải thiếu Dị Phẩm Biến Vô Tính, mà là vì đôi bên người lập luận và người vấn nạn đều dùng một Nhân chính xác (Nhân có đủ cả ba tướng) để chứng minh Tông trái ngược nhau, đôi bên ngang nhau, không phân thắng bại, ai phải ai trái, không Quyết Định được, do đó mà cũng được xếp vào loại Nhân Bất Định. [X. luận Nhân Minh nhập chính lí; Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Ngộ Tha môn thiển thích]. (xt. Lục Bất Định Quá, Nhân Minh).