Bảo Đỉnh, Bửu Đỉnh

《寶鼎》 bǎo dǐng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có ba nghĩa chính. (1) Cái đỉnh thời cổ đại. Nguyên nó là đồ dùng để nấu, về sau được dùng tượng trưng cho quyền uy chính trị, nên gọi là bảo đỉnh. Như trong bài thơ Nhâm Tý Thu Quá Cố Cung () của Tống Nột (, 1311-1390) nhà Minh có câu: “Bảo đỉnh bách niên quy Hán thất, cẩm phàm chung cổ tợ Tùy gia (, đỉnh báu trăm năm về Hán thất, buồm gấm muôn thuở giống Tùy gia).” Hoặc trong Minh Huệ Kinh Thiền Sư Ngữ Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1432) quyển 2 lại có câu: “Thiên quân bảo đỉnh phù thương hải, nhất trượng Quy Mao phược Thái Hư (, ngàn cân đỉnh báu trôi xanh biển, một gậy lông rùa cột Hư Không).” (2) Chỉ lò hương, vì chế theo hình cái đỉnh, nên có tên như vậy. Như trong Nhị Bộ Tăng Thọ Giới Nghi Thức (, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1134) quyển Hạ có đoạn: “Bảo đỉnh nhiệt danh hương, phổ biến Thập Phương, kiền thành phụng hiến pháp trung vương, đoan vi Hoàng vương Chúc Thánh thọ, địa Cửu Thiên trường, đoan vi Hoàng vương Chúc Thánh thọ, địa Cửu Thiên trường (, lò báu ngút hương thơm, cúng khắp mười phương, lòng thành dâng cúng đấng Pháp Vương, thảy vì Hoàng đế chúc trường thọ, trời đất dài lâu, thảy vì Hoàng đế chúc trường thọ, trời đất dài lâu).” (3) Chỉ cái lò do các Đạo sĩ dùng để luyện đan nấu thuốc. như trong bài thơ Xuân Nhật Tạp Cảm () của Trình Thiện Chi (, 1880-1942) có câu: “Bảo đỉnh luyện thần dược, bất như thủ trung chi (, lò báu luyện thần dược, chẳng bằng chén trong tay).”