Bạch Tứ Yết Ma

《白四羯磨》 bái sì jié mó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: jĩapticaturtha-karman, Pàli: ĩatti-catuttha-kamma. Còn gọi là Bạch tứ, Bạch tứ pháp, Nhất Bạch Tam Yết Ma. Bạch (Phạm:jĩapti) tức là ý thông báo, tâu bày; Yết Ma (Phạm:Karma), dịch ý là nghiệp (Sự Tạo tác), Tác Pháp (phép làm). Bạch Tứ Yết Ma, nghĩa là khi thi hành các sự vụ trong Tăng Chúng, như phép Thụ Giới chẳng hạn, khi Thụ Giới Cụ Túc, qui định là thầy Yết Ma trong ba thầy, có nhiệm vụ trình bày trước với chúng tăng là những ai đã xin được Xuất Gia, đây tức là bạch (tức là văn trình bày, tường trình). Kế đó, thầy Yết Ma hỏi chúng tăng ba lần xem có bằng lòng (tán thành) hay không, gọi là Tam Yết Ma (Phạm: tftìya karmavàcanà). Nếu không có ai phản đối thì nhận cho được Thụ Giới làm tăng. Gộp một lần trình bày và ba lần hỏi (Yết Ma), cho nên gọi là Bạch Tứ Yết Ma, là một cách làm việc (Tác Pháp) hết sức thận trọng. Tất cả các việc khác, như việc Sám Hối tội nặng, việc xử phạt, việc can gián, việc dập tắt sự tranh cãi v.v….., tóm lại, các việc lớn nhỏ đều phải theo cách làm này để hỏi ý kiến chúng tăng. Yết Ma sớ quyển 1 phần trên (Vạn tục 64, 270 thượng), nói: Vì sự tình nặng nề, sự đồng ý khó khăn, như Sám Hối tội nặng, phạt nặng trục xuất, nên phải một lần trình bày, ba lần gạn hỏi, việc mới thành được, vì thế gọi là Bạch tứ. Cũng lấy một bạch ba Yết Ma gộp làm bốn. [X. luật Tứ phần hành sự sao tư trì kí Q.thượng chương 1 đoạn 5]. (xt. Nhất Bạch Tam Yết Ma).