An Lẫm

《安廩》 ān lǐn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

[], Anhin, 507-583: vị tăng sống dưới thời Nam Triều, xuất thân vùng Lợi Thành (), Giang Âm (, thuộc Giang Tô []), họ Tần (), lúc còn nhỏ đã thông minh hiếu học, có hiếu với song thân. Năm 25 tuổi, ông Xuất Gia, theo Dung Công ()Quang Dung Tự () vùng Tư Châu () học tập kinh luận và thường nghe Huệ Quang ()Thiếu Lâm Tự () thuyết giảng về Thập Địa Kinh Luận (), thọ lãnh yếu chỉ Thiền pháp và ngộ được Huyền Chỉ. Trong thời gian sống ở đất Ngụy 12 năm, ông chuyên tâm tuyên giảng Tứ Phần Luật () cùng các kinh luận Đại Thừa khác số lượng người đến Tham Học ngày càng đông. Vào năm đầu (547) niên hiệu Thái Thanh () nhà Lương, ông cùng với môn nhân đến Dương Đô (), vua Võ Đế cung tiếp hậu hỷ, ban sắc chỉ trú trì Thiên An Tự (); nhân đó ông tuyên giảng Kinh Hoa Nghiêm tại đây. Vào năm đầu (557) niên hiệu Vĩnh Định (), ông vâng sắc chỉ vào trong nội điện thuyết giảng giới luật, khai pháp tại Kỳ Xà Tự (), giảng diễn không hề mệt mỏi. Sau đó, ông vâng mệnh vua Văn Đế khai giảng Đại Tập Kinh () tại Chiêu Đức Điện (殿). Đến thời vua Tuyên Đế, ông cũng từng thuyết giảng tại Hoa Lâm Viên (). Vào năm đầu niên hiệu Chí Đức () nhà Trần, ông Thị Tịch, hưởng thọ 77 tuổi.