Âm Dung

《音容》 yīn róng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có hai nghĩa. (1) Âm thanh và hình bóng. Như trong bài thơ Thù Tùng Đệ Huệ Vận () của Tạ Linh Vận (, 385-433) nhà Tống có câu: “Nham hác ngụ nhĩ mục, hoan ái cách Âm Dung (, hõm núi gởi tai mắt, yêu thương cách bóng hình).” Hay trong bài Trường Hận Ca () của Bạch Cư Dị (, 772-846) nhà Đường cũng có câu: “Hàm tình ngưng đệ tạ quân vương, nhất biệt Âm Dung lưỡng diểu mang (, ngậm tình liếc trộm tạ quân vương, cách biệt bóng hình muôn dặm trường).” (2) Trong thư tín, từ này được dùng để thay thế cho đối phương. Như trong tập 3 của tác phẩm Tây Sương Ký (西) do Vương Thật Phủ (, 1260-1336) nhà Nguyên sáng tác, có đoạn: “Tự Âm Dung khứ hậu, Bất Giác hứa thời, ngưỡng kính chi tâm, vị thường thiểu đãi (, từ khi người ra đi về sau, chẳng biết lúc nào, tâm thường kính ngưỡng, chưa từng chút chểnh mảng).” Trong bài thỉnh cúng linh cũng có đoạn: “Kim ô tợ tiễn, ngọc thố như thoan, tưởng cốt nhục dĩ phân ly, đỗ Âm Dung nhi hà tại (, quạ vàng [mặt trời] tên bắn, thỏ ngọc [mặt trăng] thoi đưa, nhớ cốt nhục đã chia ly, tìm bóng hình đâu còn nữa).”